(apag.edu.vn) - Chiều ngày 01/10/2026, tại Hà Nội, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Thử nghiệm chính sách: Lý luận và thực tiễn”. PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Trưởng Khoa Hành chính học và TS. Lê Văn Hoà, Phó Trưởng khoa Hành chính học đồng chủ trì Hội thảo. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các phân hiệu của Học viện.
Tham dự Hội thảo, về phía các đại biểu khách mời, có: TS. Trần Văn Tùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam; PGS.TS. Bùi Duy Linh, Phó Trưởng phòng Truyền thông và Quan hệ đối ngoại, Trường Đại học Ngoại thương; TS. Nguyễn Văn Trúc, Trưởng phòng Ươm tạo Công nghệ, Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ; TS. Nguyễn Hữu Xuyên, Phó Hiệu trưởng Trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ; TS. Nguyễn Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng; ThS. Nguyễn Đức Minh, Nghiên cứu viên, Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV).
Về phía Học viện Hành chính và Quản trị công, có: TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện; PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải, nguyên Trưởng khoa, Giảng viên cao cấp Học viện; lãnh đạo các khoa, ban, đơn vị, các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, học viên và sinh viên Học viện quan tâm đến chủ đề hội thảo.
Toàn cảnh Hội thảo.
TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện phát biểu chỉ đạo Hội thảo.
Phát biểu chỉ đạo Hội thảo, TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện nhấn mạnh trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số sâu rộng, nhu cầu về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) ở Việt Nam là rất lớn. Hội thảo khoa học “Thử nghiệm chính sách: Lý luận và thực tiễn” được tổ chức như một diễn đàn trao đổi về cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam; làm rõ điều kiện, cơ hội, rủi ro và những vấn đề đặt ra khi vận dụng thử nghiệm chính sách trong quản trị quốc gia. TS. Bùi Phương Đình khẳng định, chủ đề Hội thảo gắn trực tiếp với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu và tư vấn chính sách của Học viện. Trên cơ sở đó, Khoa Hành chính học cùng các đơn vị liên quan cần tổng hợp đầy đủ các ý kiến có giá trị; làm rõ những kết quả, vấn đề còn có ý kiến khác nhau và nội dung cần tiếp tục nghiên cứu để được sử dụng trong giảng dạy, bồi dưỡng, nghiên cứu và tham mưu, tư vấn chính sách.
PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Trưởng Khoa Hành chính học phát biểu đề dẫn Hội thảo.Phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải nhận định các vấn đề chính sách trong quản trị quốc gia hiện đại ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp và khó lường trước. Sự bứt phá của khoa học công nghệ, chuyển đổi số, các mô hình kinh doanh mới cùng những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và sự biến đổi nhanh chóng của môi trường quản trị đã đặt các cơ quan nhà nước trước nhiều thách thức. Trước những vấn đề này, kinh nghiệm quản lý truyền thống hay khuôn khổ pháp lý hiện hành không phải lúc nào cũng đưa ra được giải pháp đầy đủ ngay lập tức. Trong bối cảnh đó, thử nghiệm chính sách thu hút sự chú ý như một phương thức hữu hiệu, cho phép cơ quan quản lý kiểm chứng các ý tưởng, giải pháp và công cụ mới trong phạm vi, thời gian cùng điều kiện được kiểm soát trước khi áp dụng đại trà.
Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, thực tiễn pháp lý tại Việt Nam thời gian qua phản ánh cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đang từng bước được thể chế hóa ở một số lĩnh vực. Quy định pháp luật hiện hành xác định việc thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới là các hoạt động diễn ra trong giới hạn về không gian, thời gian và phạm vi. Đồng thời, cơ chế này đòi hỏi tính công khai, minh bạch, bảo vệ lợi ích công cộng và giảm thiểu nguy cơ phát sinh tác động tiêu cực. Những bước chuyển dịch đó cho thấy thử nghiệm chính sách không dừng lại ở chủ đề lý luận mà đã thực sự trở thành một vấn đề thực tiễn trong quản trị nhà nước.
Định hướng thảo luận tại Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải gợi mở 5 nhóm nội dung trọng tâm bao gồm: (1) Những vấn đề lý luận về thử nghiệm chính sách; (2) Thực tiễn thử nghiệm chính sách tại Việt Nam; (3) Kinh nghiệm quốc tế về thử nghiệm chính sách và giá trị tham khảo cho Việt Nam; (4) Các điều kiện bảo đảm cùng những vấn đề quản trị đặt ra đối với thử nghiệm chính sách; (5) Định hướng hoàn thiện cơ chế thử nghiệm chính sách trong quản trị quốc gia ở Việt Nam.
PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải, nguyên Trưởng khoa, Giảng viên cao cấp, Học viện Hành chính và Quản trị công tham luận tại Hội thảo.Tham luận với chủ đề “Bài học từ mô hình thử nghiệm chính sách công” của PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải tập trung phân tích kinh nghiệm quốc tế về việc ứng dụng các mô hình thử nghiệm chính sách trong khu vực công. Tham luận nhấn mạnh thử nghiệm chính sách không đơn thuần là việc áp dụng một chính sách hay mô hình ở quy mô hẹp, mà về bản chất là một cơ chế học hỏi có tổ chức, có kiểm soát và liên tục của hệ thống quản trị. Để một mô hình thử nghiệm chính sách đạt hiệu quả, khâu thiết kế đóng vai trò quyết định: phải xác định rõ câu hỏi chính sách cần giải đáp, lý thuyết can thiệp, dữ liệu nền, tiêu chí đo lường kết quả và cơ chế theo dõi, thu thập dữ liệu khách quan.
Từ việc đối chiếu các mô hình thử nghiệm thành công và không thành công trên thế giới, PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải đề cập năm mô hình thử nghiệm chủ yếu: Thử nghiệm có kiểm soát theo địa bàn, nhóm đối tượng hoặc thời gian giúp giới hạn phạm vi và giảm rủi ro trước khi nhân rộng; Thử nghiệm có đối chứng và đánh giá tác động sử dụng các phương pháp thực nghiệm để xác định hiệu quả thực tế của chính sách; Phòng thí nghiệm chính sách (Policy Lab) tạo môi trường hợp tác giữa các chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người sử dụng nhằm xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện giải pháp; Thử nghiệm pháp lý có kiểm soát (Regulatory Sandbox) tạo môi trường pháp lý có kiểm soát để thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ và mô hình mới; Thử nghiệm chính sách trong môi trường thực tế (Living Lab) tiến hành thử nghiệm ngay trong môi trường thực tế với sự tham gia trực tiếp của người sử dụng.
TS. Nguyễn Văn Trúc, Trưởng phòng Ươm tạo Công nghệ, Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ trình bày tham luận tại Hội thảo.
Tham luận tại Hội thảo với chủ đề “Thử nghiệm chính sách trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Từ cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đến phòng thí nghiệm chính sách - gợi mở mô hình cho Việt Nam”, TS. Nguyễn Văn Trúc đi sâu phân tích sự phát triển của các công cụ thử nghiệm chính sách trên thế giới, từ các không gian thử nghiệm quy định (regulatory sandbox) hẹp theo ngành sang mô hình phòng thí nghiệm chính sách (policy lab) hiện đại. Tham luận chỉ ra rằng phòng thí nghiệm chính sách là mô hình quản trị mang tính mở, tích hợp phương pháp tư duy thiết kế (design thinking), phân tích dữ liệu lớn và thử nghiệm hành vi nhằm giải quyết các vấn đề công phức tạp.
Đối với Việt Nam, TS. Nguyễn Văn Trúc đề xuất cần tiến tới hình thành các phòng thí nghiệm chính sách nhằm tạo không gian đồng sáng tạo giữa cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và các chuyên gia. Mô hình này giúp kiểm chứng trực tiếp các giải pháp công nghệ chiến lược, cho phép triển khai nguyên mẫu chính sách (policy prototyping), thử nghiệm trực tiếp các giải pháp công nghệ mới trên quy mô nhỏ để thu thập dữ liệu phản hồi thời gian thực giúp nhà làm chính sách có căn cứ thực chứng chắc chắn trước khi soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.Do đó, ông đề xuất Regulatory Sandbox và Policy Lab cần được tích hợp trong một hệ thống thử nghiệm chính sách thống nhất, trong đó, Policy Lab cung cấp hạ tầng tổ chức và phương pháp, Sandbox là công cụ thử nghiệm, dữ liệu và bằng chứng là nền tảng học hỏi, còn chính sách thích ứng là đầu ra. Đây được xem là hướng tiếp cận phù hợp để Việt Nam nâng cao năng lực quản trị trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thay đổi nhanh
PGS.TS. Bùi Duy Linh, Phó Trưởng phòng Truyền thông và Quan hệ đối ngoại, Trường Đại học Ngoại thương trình bày tham luận tại Hội thảo.
Bài tham luận “Thử nghiệm vùng phát thải thấp tại Hà Nội và vấn đề gánh nặng chi phí xanh hóa logistics” của PGS.TS. Bùi Duy Linh tiếp cận thử nghiệm vùng phát thải thấp (LEZ) tại Hà Nội không chỉ là giải pháp môi trường mà còn là cơ chế tái phân bổ quyền tiếp cận, chi phí và rủi ro trong logistics đô thị. Về lý luận, nghiên cứu chỉ ra rằng thử nghiệm hẹp giúp giảm rủi ro thực thi nhưng hạn chế khả năng suy rộng kết quả, đồng thời nhấn mạnh ba chiều của công bằng logistics để bảo vệ các nhóm thiết yếu yếu thế. Phân tích thực tiễn theo Quyết định 3273/QĐ-UBND (thử nghiệm từ 01/7 đến 31/12/2026 tại Hoàn Kiếm) cho thấy thành công ở khu vực hẹp không tự động chứng minh tính khả thi trên toàn Vành đai 1.
Tham luận đưa ra ba nhận định cần kiểm định: phạm vi hẹp khó nhân rộng; quy định lưu thông gây áp lực chi phí lớn hơn lên doanh nghiệp nhỏ và tài xế tự sở hữu; phát thải và chi phí có nguy cơ bị dịch chuyển sang vùng đệm thay vì thực sự giảm. Từ đó, PGS.TS. Bùi Duy Linh nhấn mạnh công bằng logistics là điều kiện bảo đảm hiệu lực chính sách, đồng thời kiến nghị Hà Nội trước khi mở rộng cần đánh giá đồng thời bốn nhóm tiêu chí (hiệu quả môi trường, khả năng vận hành logistics, phân bổ chi phí, tác động vùng đệm); nếu không đạt phải điều chỉnh hoặc kéo dài thử nghiệm chứ không tự động mở rộng. Thành công của chính sách chỉ thực sự có cơ sở vững chắc khi đạt mục tiêu môi trường mà không gây đứt gãy logistics, gánh nặng phân phối quá mức hay chuyển dịch ô nhiễm sang khu vực khác.
TS. Nguyễn Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng trình bày tham luận tại Hội thảo.
Tham luận “Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát: Một số thực tiễn tại Đà Nẵng và hàm ý các đề xuất chính sách” của TS. Nguyễn Hoàng Hà chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của thành phố Đà Nẵng - một trong những địa phương đi đầu cả nước trong việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù và thử nghiệm có kiểm soát theo Nghị quyết của Quốc hội. Tham luận cho biết Đà Nẵng đã chủ động cho phép thử nghiệm các giải pháp công nghệ đột phá, tiêu biểu như: giải pháp "Phần mềm Basal Pay" hay thí điểm dịch vụ viễn thông sử dụng công nghệ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp.
Từ thực tế triển khai tại địa phương, TS. Nguyễn Hoàng Hà chỉ ra nhiều vướng mắc thực tiễn: ranh giới giữa thẩm quyền chính quyền địa phương và các quy định của bộ, ngành trung ương còn chưa thực sự rõ ràng; quy trình thẩm định hồ sơ đăng ký thử nghiệm còn kéo dài; cơ chế chia sẻ dữ liệu và quản trị rủi ro liên ngành chưa đồng bộ. Ông đề xuất Trung ương cần sớm ban hành khung hướng dẫn chung về sandbox, phân quyền mạnh mẽ hơn cho cấp tỉnh trong việc cấp phép và giám sát thử nghiệm, đồng thời thiết lập cơ chế "chuyển tiếp chính sách” tức là quy định rõ đường lối xử lý sau khi dự án hoàn thành thử nghiệm thành công.
ThS. Nguyễn Đức Minh, Nghiên cứu viên, Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) trình bày tham luận tại Hội thảo.Trong bài tham luận “Thử nghiệm chính sách từ phía đối tượng chịu tác động: Điểm nghẽn trong tiếp cận cơ chế thử nghiệm có kiểm soát của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam”, ThS. Nguyễn Đức Minh phân tích cơ chế này dưới góc nhìn của doanh nghiệp đối tượng trực tiếp đề xuất và có nhu cầu tham gia thử nghiệm. ThS. Nguyễn Đức Minh đánh giá rằng dù khung pháp lý về thử nghiệm có kiểm soát tại Việt Nam đã nhanh chóng được thiết lập từ năm 2025, vướng mắc lớn nhất hiện nay không còn nằm ở việc đã có cơ chế hay chưa, mà tập trung vào cách thức doanh nghiệp tiếp cận, mức chi phí phải gánh chịu và phương thức chuyển hóa kết quả thử nghiệm thành chính sách thực tế. ThS. Nguyễn Đức Minh đưa ra 04 rào cản cốt lõi đối với khu vực kinh tế tư nhân khi tiếp cận cơ chế thử nghiệm có kiểm soát: Kênh tiếp cận bị phân mảnh; Chi phí tham gia bất lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; Đầu ra sau thử nghiệm chưa rõ ràng; Thiếu kênh đề xuất đổi mới phương thức quản lý.
Để khắc phục các hạn chế trên, ThS. Nguyễn Đức Minh khuyến nghị 05 nhóm giải pháp trọng tâm: (1) Hình thành một đầu mối tiếp nhận liên ngành duy nhất đi kèm cơ chế xác nhận nhanh; (2) Chuẩn hóa các bước, hồ sơ thủ tục và phân tầng quản lý dựa trên mức độ rủi ro; (3) Kết nối trực tiếp quy trình thử nghiệm với chu trình lập pháp và hoàn thiện chính sách; (4) Mở kênh chính thức cho thử nghiệm cắt giảm nhằm kiểm chứng hiệu quả của việc loại bỏ, thay thế hoặc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với các thủ tục và điều kiện kinh doanh; (5) Thiết lập cơ chế bảo vệ cán bộ phê duyệt, thẩm định và đánh giá, kết hợp công khai thông tin minh bạch để ngăn chặn việc trục lợi cơ chế sandbox.
Các đại biểu tham dự Hội thảo cùng trao đổi, thảo luận sôi nổi về các chủ đề, như: thực tiễn xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam; tại sao phải thử nghiệm chính sách và các điều kiện thử nghiệm chính sách; thử nghiệm phải đảm bảo tính an toàn và không nên lạm dụng thử nghiệm chính sách.
TS. Trần Văn Tùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.
TS. Nguyễn Hữu Xuyên, Phó Hiệu trưởng Trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ khoa học và công nghệ phát biểu tại Hội thảo.
PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Trưởng Khoa Hành chính học phát biểu kết luận Hội thảo.Phát biểu kết luận Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải, Trưởng khoa Hành chính học gửi lời cám ơn đến tất cả đại biểu, các nhà khoa học, các giảng viên và các em sinh viên đã tham gia và đóng góp ý kiến tại Hội thảo. PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải nhấn mạnh Hội thảo là bước khởi đầu quan trọng mở ra không gian thảo luận về một chủ đề thời sự trong quản trị nhà nước. PGS.TS. Nguyễn Thị Hồng Hải đưa ra 5 kết luận cốt lõi: (1) Thử nghiệm chính sách là yêu cầu khách quan giúp Nhà nước vận hành linh hoạt trước sự bứt phá của công nghệ và các mô hình mới; (2) Thử nghiệm nhằm tạo lập bằng chứng thực tiễn phục vụ ra quyết định, quản trị rủi ro, cởi trói thể chế và bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm; (3) Cần phân biệt rõ thử nghiệm chính sách (policy experimentation) nói chung với cơ chế sandbox hay thí điểm (policy pilot); (4) Phải tuân thủ quy trình 7 bước chuẩn hóa từ xác định vấn đề đến đánh giá và thể chế hóa, tránh thử nghiệm kéo dài không kết luận; (5) Thống nhất 9 nhóm giải pháp trọng tâm như thống nhất nhận thức, linh hoạt khung pháp lý, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, khắc phục tâm lý sợ sai, quản trị dựa trên dữ liệu, thực hiện nguyên tắc “6 rõ, 3 không", đẩy mạnh hợp tác công tư và phát huy bản lĩnh người đứng đầu. Các ý kiến phát biểu của các chuyên gia, các nhà khoa học sẽ được tổng hợp làm khuyến nghị chính sách và bổ sung trực tiếp vào nguồn tư liệu đào tạo, nghiên cứu của Học viện.
Các đại biểu chụp hình lưu niệm tại Hội thảo.