Quan hệ đối tác vì năng lực sẵn sàng trước tương lai và phát triển bền vững

10:15 07/10/2026

(apag.edu.vn) - Trong khuôn khổ Diễn đàn quốc tế thường niên về Quản trị công năm 2026, sáng ngày 07/10/2026, Phiên toàn thể 3 đã diễn ra với chủ đề “Quan hệ đối tác vì năng lực sẵn sàng trước tương lai và phát triển bền vững”. Học viện Hành chính và Quản trị công và Tổ chức Hành chính các nước miền Đông thế giới (EROPA) đồng chủ trì. TS. Kristoffer Berse, Hiệu trưởng, Trường Hành chính và Quản trị công quốc gia (NCPAG), Đại học Philippines Diliman, Phó Tổng Thư ký EROPA và TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công cùng điều phối Phiên toàn thể 3.

TS. Kristoffer Berse, Hiệu trưởng, Trường Hành chính và Quản trị công quốc gia (NCPAG), Đại học Philippines Diliman, Phó Tổng Thư ký EROPA và TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công điều phối Phiên toàn thể 3.

Tham dự Phiên toàn thể 3 có các diễn giả: TS. Vũ Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công; TS. Trương Quốc Việt, Phó Trưởng khoa Khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công; GS.TS. Agus Pramusinto, Đại học Gadjah Mada, nguyên Chủ tịch Ủy ban Công vụ Indonesia; GS.TS. Masao Kikuchi, Đại học Meiji, Nhật Bản.

TS. Vũ Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ tham luận tại Phiên toàn thể 3.

Với chủ để “Cải cách thể chế thúc đẩy chuyển đổi hệ thống, hướng tới Chính phủ sẵn sàng trước tương lai”, tham luận của Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng khẳng định thể chế là nền tảng của quản trị quốc gia, quyết định cách thức tổ chức quyền lực, huy động nguồn lực và thực hiện mục tiêu phát triển. Trong bối cảnh công nghệ, kinh tế và xã hội biến đổi nhanh, cải cách thể chế cần được đặt trong tổng thể chuyển đổi hệ thống, gắn hoàn thiện pháp luật với đổi mới tổ chức, phân cấp, phân quyền và xây dựng Chính phủ số. Mục tiêu là tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch, khả thi, bảo đảm quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và điều kiện thực hiện.

TS. Vũ Chiến Thắng đánh giá những kết quả nổi bật trong cải cách thể chế thời gian qua, gồm: đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện pháp luật; tăng cường rà soát văn bản; hoàn thiện phân cấp, phân quyền và cơ chế tiếp nhận phản ánh, kiến nghị. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, như: quy định chưa đồng bộ; chất lượng nghiên cứu và đánh giá tác động chính sách chưa đồng đều; năng lực thực thi ở một số địa phương còn hạn chế; việc liên thông dữ liệu, tái cấu trúc quy trình chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu chuyển đổi số.

Trên cơ sở đó, TS. Vũ Chiến Thắng đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằm tiếp tục cải cách thể chế thúc đẩy chuyển đổi hệ thống, hướng tới Chính phủ sẵn sàng trước tương lai: (1) Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật; (2) Nâng cao chất lượng hoạch định và đánh giá tác động chính sách; (3) Gắn phân cấp, phân quyền với nguồn lực và trách nhiệm giải trình; (4) Phát triển quản trị dựa trên dữ liệu; (5) Tăng cường tổ chức thi hành và đánh giá pháp luật sau ban hành; và (6) Nâng cao năng lực dự báo và khả năng thích ứng của thể chế. Qua đó, cải cách cần được thực hiện xuyên suốt từ hoạch định, thi hành đến đánh giá, giúp Chính phủ chủ động trước biến động và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

TS. Trương Quốc Việt, Phó Trưởng khoa, Khoa Hành chính học, Học viện Hành hcisnh và Quản trị công trình bày tham luận.

Trong một thế giới biến động nhanh, các vấn đề công ngày càng mang tính liên ngành, vượt khỏi phạm vi xử lý của một cơ quan, một ngành hay một cấp chính quyền. Từ thực tiễn đó, tham luận của TS. Trương Quốc Việt với chủ đề “Quản trị linh hoạt trong thế giới biến động: năng lực phối hợp liên ngành, đối tác đa chủ thể và sẵn sàng cho tương lai - gợi mở từ nghiên cứu về Chính phủ linh hoạt ở Việt Nam” đặt vấn đề chuyển từ “linh hoạt trong từng tổ chức” sang xây dựng năng lực linh hoạt ở cấp độ toàn hệ thống quản trị.

Kế thừa các hướng tiếp cận về chính phủ linh hoạt, quản trị thích ứng, quản trị hợp tác, quản trị dự báo và năng lực động, TS. Trương Quốc Việt đề xuất ba cấp độ của năng lực quản trị linh hoạt: cấp độ tổ chức, cấp độ toàn Chính phủ và cấp độ hệ sinh thái quản trị. Nếu cấp tổ chức tập trung vào khả năng nhận biết thay đổi, sử dụng dữ liệu và điều chỉnh quy trình, thì cấp toàn Chính phủ đòi hỏi các cơ quan, các cấp cùng chia sẻ mục tiêu, dữ liệu, nguồn lực và trách nhiệm. Ở cấp độ hệ sinh thái, Nhà nước cần kết nối doanh nghiệp, viện trường, tổ chức xã hội, cộng đồng và các đối tác khác để huy động nguồn lực cho các vấn đề công.

Bốn trường hợp tại Việt Nam được sử dụng để làm rõ quá trình chuyển đổi năng lực. Ứng phó COVID-19 cho thấy sự chuyển dịch từ phản ứng khẩn cấp sang thích ứng dựa trên mức độ rủi ro, dữ liệu và khả năng thực thi tại địa phương. Điểm nối then chốt là sự kết hợp giữa bằng chứng dịch tễ, năng lực y tế với thẩm quyền xác định mức nguy cơ và quyết định của địa phương. Với Đề án 06, Trung tâm Dữ liệu quốc gia và Cổng Dịch vụ công quốc gia, trọng tâm không chỉ là xây dựng và sở hữu dữ liệu mà là làm cho dữ liệu có thể được xác thực, sử dụng lại đúng mục đích và tạo ra dịch vụ tốt hơn. Điều này đòi hỏi sự đồng bộ giữa hạ tầng kỹ thuật, pháp lý và trách nhiệm của các cơ quan về chất lượng dữ liệu, quyền truy cập và xử lý ngoại lệ. Đối với tinh gọn bộ máy và chính quyền địa phương hai cấp, giảm số lượng đầu mối chưa đồng nghĩa với nâng cao năng lực thực thi. Chuyển đổi thực chất phải là tái phân bổ một “gói năng lực” gồm thẩm quyền, nhân sự, ngân sách, dữ liệu, hạ tầng và hỗ trợ chuyên môn tới nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ. Trong khi đó, thử nghiệm chính sách và Trung tâm tài chính quốc tế cho thấy yêu cầu chuyển từ áp dụng các quy tắc cố định sang thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh thể chế. Năng lực học hỏi được hình thành khi cơ quan quản lý có thể xác định giả thuyết, giới hạn rủi ro, thu thập bằng chứng và quyết định mở rộng, sửa đổi hoặc dừng thử nghiệm trên cơ sở đánh giá.

Từ các trường hợp trên, TS. Trương Quốc Việt đề xuất bốn hướng chuyển đổi năng lực: (1) Từ năng lực riêng lẻ của cơ quan sang năng lực hệ thống; (2) Từ phối hợp theo ranh giới thẩm quyền sang kết nối liên ngành, liên cấp và đa chủ thể; (3) Từ sở hữu nguồn lực sang huy động và điều phối hệ sinh thái; và (4) Từ phản ứng sang nhận biết sớm, thích ứng và học hỏi liên tục. Những chuyển đổi này phải được đặt trong khuôn khổ pháp quyền, gắn với minh bạch, khả năng kiểm chứng và trách nhiệm giải trình.

TS. Trương Quốc Việt khẳng định năng lực linh hoạt của một tổ chức chỉ là điểm khởi đầu. Để Nhà nước sẵn sàng trước những biến động khó dự báo, cần bảo đảm các “điểm nối” giữa thông tin, thẩm quyền, nguồn lực và phản hồi hoạt động hiệu quả. Nhà nước sẵn sàng cho tương lai không phải ở khả năng dự báo chính xác từng cú sốc mà ở khả năng nhận biết sớm, kết nối đúng năng lực, huy động hành động chung và học hỏi đủ nhanh để tự điều chỉnh trong khuôn khổ pháp quyền.

GS.TS. Agus Pramusinto, Đại học Gadjah Mada, nguyên Chủ tịch Ủy ban Công vụ Indonesia trình bày tham luận.

GS.TS. Agus Pramusinto nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển từ mô hình quản trị lấy chính phủ làm trung tâm sang quản trị dựa trên quan hệ đối tác để nâng cao năng lực sẵn sàng trước tương lai. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, biến đổi nhân khẩu học, đô thị hóa, tác động của AI, chuyển đổi năng lượng, an ninh lương thực và bất bình đẳng ngày càng phức tạp, chính phủ không thể tự mình giải quyết toàn bộ các vấn đề công. Chính phủ phải sẵn sàng trước tương lai cần có khả năng điều phối nhiều chủ thể, huy động tri thức phân tán, kết hợp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và bảo vệ giá trị công.

Theo GS.TS. Agus Pramusinto, quan hệ đối tác không chỉ giới hạn ở hợp tác công - tư mà còn bao gồm hợp tác giữa chính phủ với xã hội dân sự, trường đại học, đối tác phát triển quốc tế, cộng đồng, doanh nghiệp và các mạng lưới về dữ liệu, đổi mới sáng tạo, tài chính. Khung 4P - Mục đích (Purpose), Quyền lực (Power), Tổ hợp (Portfolio) và Kết quả (Performance) được đề xuất như một cách tiếp cận để thiết kế và quản lý các quan hệ đối tác một cách hiệu quả. Tuy nhiên, quan hệ đối tác cũng tiềm ẩn các rủi ro như bất cân xứng quyền lực, chi phối chính sách bởi nhóm lợi ích, khoảng trống trách nhiệm giải trình, tập trung dữ liệu và hợp tác mang tính hình thức. Do đó, theo GS.TS. Agus Pramusinto, nhà hoạch định chính sách tương lai cần năng lực nhận diện vấn đề, lập bản đồ hệ sinh thái, thiết kế thể chế, quản lý thích ứng và bảo vệ giá trị công. Mục tiêu cuối cùng là cùng kiến tạo giá trị công theo hướng bao trùm, bền vững, có khả năng chống chịu và sẵn sàng trước tương lai.

GS.TS. Masao Kikuchi, Đại học Meiji, Nhật Bản trình bày tham luận.

Tham luận tại Phiên toàn thể 3, TS. Masao Kikuchi tập trung vào quá trình học hỏi và chuyển giao chính sách giữa các địa phương, quốc gia và khu vực châu Á. Ông nhấn mạnh chính sách không đơn thuần được sao chép từ nơi này sang nơi khác mà được tiếp nhận, điều chỉnh theo bối cảnh và có thể quay trở lại nơi khởi nguồn dưới những hình thức mới. Vì vậy, chuyển giao chính sách cần được nhìn nhận như một quá trình học hỏi tương hỗ và liên tục.

TS. Masao Kikuchi trình bày vai trò của “cộng đồng ủng hộ công cụ chính sách” (instrument constituencies) - mạng lưới các chủ thể cùng quan tâm và thúc đẩy việc áp dụng những công cụ chính sách cụ thể. Các chính quyền địa phương, tổ chức quốc tế, chuyên gia và các mạng lưới chính sách có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình trao đổi, điều chỉnh và lan tỏa chính sách. Trường hợp “Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP) của Nhật Bản là minh chứng tiêu biểu cho khái niệm này. Khởi đầu tại tỉnh Oita năm 1979, mô hình khuyến khích cộng đồng phát triển sản phẩm dựa trên nguồn lực và bản sắc địa phương, với các nguyên tắc về tư duy toàn cầu, hành động địa phương, tự lực, sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Mô hình sau đó được điều chỉnh và áp dụng tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam thông qua chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

Từ OVOP - OCOP, TS. Masao Kikuchi khẳng định học hỏi chính sách ở châu Á ngày càng mang tính hai chiều và có tính vòng lặp. Quan hệ đối tác vì thế không chỉ là phương thức truyền bá một mô hình, mà còn là cơ chế đồng sáng tạo, bản địa hóa và trao đổi kinh nghiệm, vượt qua cách tiếp cận truyền thống về “bên tài trợ” và “bên tiếp nhận”.

Kết luận Phiên toàn thể 3, các ý kiến thống nhất rằng xây dựng năng lực sẵn sàng trước tương lai và phát triển bền vững đòi hỏi sự kết hợp giữa cải cách thể chế, quản trị linh hoạt, quan hệ đối tác đa chủ thể và học hỏi chính sách. Nhà nước cần phát huy vai trò kiến tạo, điều phối, bảo vệ giá trị công, đồng thời mở rộng hợp tác để huy động tri thức, dữ liệu và nguồn lực xã hội. Những gợi mở tại phiên họp khẳng định ý nghĩa của đối thoại và đồng sáng tạo, hướng tới nền quản trị công bao trùm, thích ứng và phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp.

Nhóm phóng viên