Thúc đẩy xây dựng “chính phủ linh hoạt” - Hướng tiếp cận mới trong quản trị quốc gia tại Việt Nam

20:00 31/03/2026

(apag.edu.vn) - Sáng ngày 31/3/2026, tại Hà Nội, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Cơ sở lý luận và thực tiễn về "Chính phủ linh hoạt" và hàm ý chính sách đối với Việt Nam”.

Hội thảo do PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện chủ trì; được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến tới các Phân hiệu của Học viện, một số trường đại học tại Việt Nam và Đại học Tây Úc, Australia.

Quang cảnh Hội thảo.

Hội thảo có sự tham dự của nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý giàu kinh nghiệm đến từ các cơ quan Trung ương, bộ, ngành, cơ sở đào tạo và nghiên cứu, trong đó có các nguyên lãnh đạo Văn phòng Quốc hội, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính; đại diện các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức tư vấn chính sách trong và ngoài nước.

Về phía Học viện Hành chính và Quản trị công có: TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện; TS. Hoàng Ngọc Hải, Phó Giám đốc Học viện; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc cùng đông đảo cán bộ, giảng viên của Học viện.

PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện phát biểu đề dẫn Hội thảo

Phát biểu khai mạc và đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến nhấn mạnh, trong bối cảnh quản trị quốc gia hiện đại đang chịu tác động mạnh mẽ từ các biến động nhanh, phức tạp và khó dự báo, việc nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn mô hình “chính phủ linh hoạt” là yêu cầu cấp thiết. Hội thảo được xác định là diễn đàn khoa học quan trọng nhằm trao đổi, phân tích toàn diện cả về phương diện lý luận và thực tiễn, qua đó làm rõ những vấn đề đặt ra đối với quản trị nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Nội dung Hội thảo tập trung vào ba trục vấn đề chính: (1) làm rõ khái niệm, đặc trưng và bản chất của “chính phủ linh hoạt”; (2) đánh giá thực tiễn triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những kết quả bước đầu, hạn chế và thách thức; (3) đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước. Trên cơ sở đó, các đại biểu đã trao đổi theo hướng đa chiều, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.

Trong các tham luận và ý kiến trao đổi, nhiều đại biểu khẳng định “chính phủ linh hoạt” không phải là một mô hình tổ chức mới, mà là phương thức vận hành và năng lực quản trị của Chính phủ trong bối cảnh biến động nhanh và phức tạp. Tính linh hoạt cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật, gắn với yêu cầu chuyển từ quản lý sang quản trị, từ bị động sang chủ động kiến tạo, đồng thời bảo đảm nguyên tắc pháp quyền và kỷ cương hành chính.

TS. Đinh Duy Hòa, nguyên Vụ trưởng Vụ Cải cách hành chính, Bộ Nội vụ tham luận tại Hội thảo

Tiếp cận từ phương diện lý luận, TS. Đinh Duy Hòa nhấn mạnh rằng việc xây dựng “chính phủ linh hoạt” không thể chỉ dừng ở việc điều chỉnh mô hình tổ chức hay đưa ra các khẩu hiệu chính sách, mà cốt lõi phải là sự chuyển đổi căn bản về tư duy quản trị, thể chế và phương thức vận hành của bộ máy nhà nước.

Theo ông, “tính linh hoạt” cần được nhìn nhận như năng lực thích ứng của hệ thống quản trị trước những biến động nhanh, phức tạp của thực tiễn. Điều này đòi hỏi bộ máy hành chính phải giảm bớt sự cứng nhắc, nâng cao khả năng phản ứng chính sách một cách kịp thời; đồng thời, xây dựng thể chế theo hướng mở, tạo điều kiện cho việc thử nghiệm, điều chỉnh và học hỏi liên tục trong quá trình vận hành. Cùng với đó, đội ngũ công chức cần chuyển đổi từ tư duy hành chính truyền thống sang tư duy phục vụ, gắn với đổi mới sáng tạo.

TS. Đinh Duy Hòa cũng chỉ ra rằng những thách thức lớn hiện nay không xuất phát từ việc thiếu mô hình hay kinh nghiệm quốc tế, mà chủ yếu nằm ở các rào cản nội tại như sự chồng chéo của hệ thống thể chế, văn hóa quản lý còn nặng về tính an toàn, cũng như những hạn chế trong năng lực thực thi. Do đó, để hiện thực hóa mô hình chính phủ linh hoạt, cần triển khai các cải cách một cách đồng bộ, có trọng tâm, trong đó ưu tiên cải cách thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công.

GS.TS. Nguyễn Hữu Khiển, nguyên Phó Giám đốc điều hành Học viện Hành chính Quốc gia , tham luận tại Hội thảo.

Với tham luận “Cơ sở lý luận trong nhận thức về chính phủ linh hoạt trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ ở Việt Nam hiện nay”, GS.TS. Nguyễn Hữu Khiển đã làm rõ rằng bản chất của “chính phủ linh hoạt” không chỉ dừng lại ở khả năng phản ứng nhanh, mà quan trọng hơn là năng lực thích ứng một cách sáng tạo trước những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Tính linh hoạt của Chính phủ xuất phát từ yêu cầu xử lý những tình huống vượt ra ngoài khuôn khổ các quy định sẵn có, đòi hỏi chủ thể quản lý phải chủ động tìm kiếm giải pháp phù hợp trong điều kiện bị ràng buộc bởi thẩm quyền và các quy định pháp lý. Đồng thời, sự linh hoạt cần gắn liền với trách nhiệm xã hội, thể hiện ở tinh thần dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, nhưng vẫn phải bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc pháp luật và tránh phát sinh những hệ lụy tiêu cực.

Từ đặc thù của cơ quan hành pháp - trực tiếp điều hành đời sống xã hội luôn vận động và biến đổi phức tạp - GS.TS. Nguyễn Hữu Khiển nhấn mạnh rằng tính linh hoạt vừa là yêu cầu mang tính tình thế, vừa là thuộc tính mang tính bản chất, cần được duy trì thường xuyên trong toàn bộ hoạt động của Chính phủ.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội tham luận tại Hội thảo.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng khẳng định “chính phủ linh hoạt” không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh hiện nay. Theo ông, điều này xuất phát từ tốc độ phát triển nhanh của công nghệ, những biến động địa chính trị và sự gia tăng phức tạp của các quan hệ xã hội. Một chính phủ linh hoạt cần hội tụ ba năng lực cốt lõi: nhận diện sớm vấn đề, phản ứng chính sách nhanh và liên tục hoàn thiện chính sách trong quá trình thực thi.

Ông nhấn mạnh cần 4 điều kiện để chính phủ linh hoạt trong quản trị đó là: trước hết là, thể chế linh hoạt. Chuyển từ quy định chi tiết sang quy định khung. Cho phép cơ chế thử nghiệm (Sandbox). Không phải muốn gì làm gì cũng được, mà là cho phép thử nghiệm trong khuôn khổ pháp lý: một là, làm cái gì, trong thời gian bao nhiêu, kết quả dự kiến thế nào. Hai là, phân cấp, phân quyền gắn trách nhiệm. Ba là, dữ liệu là nền tảng. Phản ứng và ra quyết định chính sách trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng, không cảm tính. Bốn là, bảo vệ người dám làm, an toàn pháp lý cho người dám làm, dám vì lợi ích chung.

Ông cũng cho rằng, cần giải quyết bài toán để bảo đảm tính linh hoạt nhưng không trái với pháp luật. Vì nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc pháp quyền. Do đó, linh hoạt không phải là phá vỡ quy tắc, mà thiết kế quy tắc để thích ứng. Kỷ luật của Chính phủ không nằm ở quy trình cứng, mà nằm ở kết quả, hiệu quả chính sách.

TS. Trần Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Hành chính Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

Trong tham luận tại Hội thảo, TS. Trần Anh Tuấn tập trung làm rõ bản chất của “chính phủ linh hoạt” trên ba phương diện: cách hiểu, sự khác biệt so với mô hình truyền thống và liên hệ với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Ông cho rằng, “chính phủ linh hoạt” không phải là một mô hình tổ chức mới mà là một giá trị mới trong hoạt động của Chính phủ, thể hiện năng lực quản trị năng động, sáng tạo, có khả năng phản ứng nhanh và điều chỉnh kịp thời trước những biến động của môi trường kinh tế, công nghệ và xã hội.

Theo TS. Trần Anh Tuấn, trong quá trình phát triển, Chính phủ Việt Nam đã từng bước định hình các giá trị quản trị hiện đại như “chính phủ kiến tạo”, “chính phủ hành động”, “chính phủ phục vụ”, “chính phủ số”. Trên nền tảng đó, “chính phủ linh hoạt” được xem là bước phát triển tiếp theo, nhấn mạnh khả năng thích ứng nhanh, điều chỉnh chính sách kịp thời và phục vụ hiệu quả người dân, doanh nghiệp trong bối cảnh mới.

Ông cũng chỉ ra những điểm khác biệt cơ bản của “chính phủ linh hoạt” so với cách tiếp cận truyền thống, như: khả năng thích ứng nhanh với các biến động; điều chỉnh chính sách linh hoạt; thúc đẩy thử nghiệm chính sách có kiểm soát; huy động sự tham gia của khu vực tư và xã hội; đồng thời xây dựng cơ chế khuyến khích, trọng dụng nhân tài trong khu vực công.

Liên hệ với Việt Nam, TS. Trần Anh Tuấn đề xuất việc xây dựng chính phủ linh hoạt cần được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị, không chỉ ở cấp trung ương mà cả ở chính quyền địa phương. Tính linh hoạt phải được thể hiện trên cả hai phương diện: hành pháp chính trị và hành chính công vụ, gắn với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy, hoàn thiện thể chế và tăng cường phối hợp giữa các cấp chính quyền. Trong bối cảnh đang triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, ông cho rằng cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh các quy định và cơ chế vận hành để bảo đảm tính linh hoạt, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn.

TS. Lê Minh Thông, nguyên Trợ lý Chủ tịch Quốc hội.

Phát biểu tại Hội thảo, TS. Lê Minh Thông phân tích bản chất của quyền hành pháp chính là tính linh hoạt, nhưng quá trình "quan liêu hóa" đã làm mất đi đặc tính này. Để chính phủ linh hoạt thì cần phải phân quyền cho rõ, và dứt khoát. Chuyển đổi số là tiên quyết và công chức tinh hoa là quyết định. Những người trực tiếp thực thi, cần có năng lực, bản lĩnh và tư duy đổi mới để hiện thực hóa một chính phủ linh hoạt trong thực tiễn. Theo ông, nếu thiếu đội ngũ công chức tinh hoa thì khó có thể hiện thực hóa một chính phủ linh hoạt trong thực tiễn.

Ông Lê Nguyễn Trường Giang, Viện trưởng Viện Chiến lược chuyển đổi số.

Trong tham luận, ông Lê Nguyễn Trường Giang tiếp cận “chính phủ linh hoạt” từ góc độ quản trị công, cho rằng đây là một chiều cạnh phản ánh quá trình thích ứng và điều chỉnh của chính phủ trước thực tiễn đang vận động. Ông nhấn mạnh, mọi cải cách đều phải xuất phát từ thực trạng hiện hữu của bộ máy nhà nước, không thể tách rời nền tảng đang tồn tại.

Theo ông, để xây dựng chính phủ linh hoạt, trước hết cần hình thành một khung lý luận thống nhất, giúp định hình rõ khái niệm và cách tiếp cận, tránh tình trạng hiểu và triển khai phân tán. Trên cơ sở đó, cần tập trung nâng cao năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức, coi đây là yếu tố then chốt quyết định khả năng linh hoạt trong vận hành.

Ông cũng làm rõ, chính phủ linh hoạt không chỉ là thích ứng với thực tế mà còn phải có năng lực “kiến tạo thực tế”, thông qua việc thiết kế chính sách, quy trình và hệ thống công vụ phù hợp. Điều này đòi hỏi xây dựng các khung thể chế mở, thúc đẩy quản trị dựa trên dữ liệu, chuẩn hóa quy trình ra quyết định và tăng cường tính tự chủ, trách nhiệm của từng chủ thể trong bộ máy.

Bên cạnh đó, tính linh hoạt cần được bảo đảm bằng việc “mục tiêu hóa”, “thông tin hóa” và “trách nhiệm hóa” trong toàn bộ hệ thống, từ tổ chức, quy trình đến con người. Chỉ khi các yếu tố này được kết nối đồng bộ, chính phủ mới có thể vận hành linh hoạt, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu quản trị trong bối cảnh mới.

PGS.TS. Võ Kim Sơn, nguyên Trưởng khoa Tổ chức và quản lý nhân sự, Học viện Hành chính Quốc gia.

Trong tham luận, PGS.TS. Võ Kim Sơn cho rằng “chính phủ linh hoạt” cần được tiếp cận một cách thận trọng, tránh hiểu đơn giản hoặc áp dụng một cách máy móc. Ông đề xuất tinh thần linh hoạt qua mô hình "5 dám": Dám nghĩ: suy nghĩ linh hoạt vượt khỏi các lối mòn. Dám nói: nói ra những điều trăn trở về thể chế, công việc, dám nói đúng với suy nghĩ. Dám thuyết phục/tranh luận: Chỉ ra mặt trái, mặt phải để tìm giải pháp tốt nhất. Dám quyết điều đã nghĩ, đã tranh luận là đúng. Và Dám làm để tổ chức thực thi các ý tưởng sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

TS. Tạ Ngọc Hải, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ.

Trong tham luận, TS. Tạ Ngọc Hải tiếp cận “chính phủ linh hoạt” không chỉ ở khía cạnh linh hoạt trong xây dựng và điều hành chính sách mà còn phải gắn với yếu tố “nhanh nhạy” trong tổ chức thực thi. Theo ông, nếu chỉ tập trung vào cấp trung ương mà chưa chú ý đúng mức đến chính quyền địa phương thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất của quản trị linh hoạt.

Ông đánh giá, chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được tổ chức triển khai linh hoạt và kịp thời ở cơ sở. Do đó, tính linh hoạt cần được thể hiện rõ trong quá trình thực thi, đặc biệt ở cấp địa phương - nơi trực tiếp xử lý các vấn đề cụ thể của thực tiễn.

TS. Nguyễn Văn Đáng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trong tham luận, TS. Nguyễn Văn Đáng tiếp cận vấn đề “chính phủ linh hoạt” từ nền tảng triết học của quản trị công, cho rằng trước khi bàn về mô hình hay cơ chế, cần xác định rõ điểm xuất phát tư tưởng của chính quyền. Theo ông, nếu trước đây chính quyền được hình thành với mục tiêu phục vụ lợi ích công, thì trong bối cảnh hiện nay - khi xã hội phát triển đa dạng và khu vực tư nhân ngày càng tham gia sâu - chính quyền phải mở rộng vai trò, hướng tới phục vụ mọi lợi ích chính đáng trong xã hội.

Từ đó, “tính linh hoạt” không chỉ là khả năng thích ứng mà còn là năng lực đáp ứng kịp thời các nhu cầu ngày càng đa dạng, vượt ra ngoài phạm vi lợi ích công truyền thống. Để thực hiện điều này, chính quyền không thể hoạt động khép kín mà cần chuyển sang tư duy hợp tác, phối hợp với khu vực tư nhân, cộng đồng và các chủ thể khác thông qua các cơ chế, công cụ chính sách phù hợp.

Ông khẳng định, linh hoạt không đồng nghĩa với tùy tiện mà là khả năng lựa chọn cách thức phục vụ hiệu quả, trong đó Nhà nước có thể trực tiếp thực hiện hoặc đóng vai trò điều phối, kiến tạo để các bên cùng tham gia. Đây chính là nền tảng quan trọng để xây dựng mô hình chính phủ linh hoạt, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.

Phiên thảo luận 1 ghi nhận nhiều ý kiến thống nhất cho rằng: “chính phủ linh hoạt” không phải là một mô hình tổ chức mới mà là phương thức vận hành và năng lực quản trị; tính linh hoạt phải đặt trong khuôn khổ pháp luật; yêu cầu chuyển từ quản lý sang quản trị, từ bị động sang chủ động kiến tạo; đồng thời cần hoàn thiện thể chế, phát triển dữ liệu, nâng cao chất lượng đội ngũ và bảo đảm sự phối hợp đồng bộ trong toàn hệ thống.

ThS. Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ tham luận

Trong Phiên thảo luận 2 với chủ đề về thực tiễn quản trị linh hoạt, ThS. Phạm Thị Ngọc Thủy đã phân tích sâu vai trò của mô hình này trong phát triển kinh tế tư nhân. Bà cho rằng việc chuyển đổi sang chính phủ linh hoạt nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế, đồng thời đề xuất chuyển từ tư duy “thiết kế trước - triển khai sau” sang “thử nghiệm - điều chỉnh - mở rộng”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

TS. Hoàng Thị Hồng, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính tham luận tại Hội thảo

TS. Hoàng Thị Hồng tiếp cận vấn đề từ góc độ thể chế và quản trị hiện đại, nhấn mạnh vai trò của quản trị đa tâm, quản trị thích ứng và coi chính sách là một quá trình thử nghiệm liên tục. Bà cho rằng cần tăng cường trao quyền cho cấp cơ sở, đồng thời hoàn thiện cơ chế phối hợp, giám sát và xử lý xung đột.

TS. Bùi Nguyên Bảo, Giám đốc Trung tâm đào tạo kỹ năng KnB Enhance tham luận tại Hội thảo

TS. Bùi Nguyên Bảo tập trung phân tích chính sách đối ngoại trong mô hình chính phủ linh hoạt. TS. Bùi Nguyên Bảo khẳng định linh hoạt là năng lực cốt lõi trong đối ngoại, kế thừa truyền thống "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của dân tộc. Ông tập trung phân tích ba khâu: hoạch định, thực thi và nhấn mạnh điều chỉnh chính sách là trọng tâm của chính sách đối ngoại trong mô hình “chính phủ linh hoạt”. Ông đề xuất cần tăng cường dự báo sớm, xây dựng kịch bản chi tiết để chuyển dịch từ linh hoạt tự phát sang linh hoạt có cấu trúc.

TS. Hoàng Thị Ngân, nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức hành chính Nhà nước và Công vụ, Văn phòng Chính phủ.

Trong tham luận, TS. Hoàng Thị Ngân tiếp cận “chính phủ linh hoạt” theo các cấp độ khác nhau. Theo bà, trước hết, linh hoạt là một thuộc tính vốn có của mọi chính phủ; ở cấp độ cao hơn, đó là điều kiện để chính phủ thích ứng và tồn tại trong bối cảnh biến động; và ở cấp độ đặc biệt, linh hoạt thể hiện rõ trong các tình huống khẩn cấp như khủng hoảng hay đại dịch.

Bà cho rằng tính linh hoạt được thể hiện trên ba phương diện chính: thẩm quyền, quy trình và phương thức vận hành. Trong đó, đáng chú ý là xu hướng mở rộng thẩm quyền cho Chính phủ trong việc xử lý các vấn đề mới, cho phép thí điểm chính sách và đa dạng hóa hình thức ban hành. Đồng thời, quy trình cũng có sự điều chỉnh theo hướng rút gọn, linh hoạt hơn; phương thức vận hành được thể hiện qua cơ chế phân cấp, ủy quyền và điều phối giữa các cấp, các cơ quan.

 TS. Khúc Văn Quý, Trưởng Bộ môn Kinh tế du lịch và dịch vụ, Khoa Kinh tế phát triển, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Phát biểu tại Hội thảo, TS. Khúc Văn Quý cho rằng, cần phân biệt rõ giữa “đạo” - những nguyên tắc, mục tiêu cốt lõi của nhà nước và “thuật” - phương thức vận hành; trong đó, tính linh hoạt của chính phủ thuộc về “thuật”, tức là cách thức để đạt được mục tiêu đã định.

TS. Khúc Văn Quý ví vai trò của Chính phủ như một “huấn luyện viên”, có nhiệm vụ định hướng, điều phối và kết nối các nguồn lực trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu phát triển. Do đó, tính linh hoạt không thể tồn tại riêng lẻ mà phải được triển khai đồng bộ trong toàn bộ hệ thống, bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể.

Về cấp độ, ông cho rằng linh hoạt cần được nhìn nhận ở hai phương diện: một là “khai mở” để tạo đột phá trong bối cảnh chưa tối ưu; hai là “tinh chỉnh” nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả khi hệ thống đã vận hành ổn định.

Để xây dựng chính phủ linh hoạt, TS. Khúc Văn Quý nhấn mạnh hai nhóm điều kiện: điều kiện cần gồm thể chế thích ứng và hạ tầng dữ liệu, công nghệ; điều kiện đủ là con người, năng lực thực thi và văn hóa sáng tạo. Trong đó, yếu tố then chốt là sự kết hợp hài hòa giữa thể chế và văn hóa, với giáo dục đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành tư duy và năng lực linh hoạt.

Theo TS. Khúc Văn Quý, chính phủ linh hoạt thực chất là một hệ thống quản trị hiện đại, vận hành trên cơ sở tư duy chiến lược, nền tảng thể chế phù hợp và đội ngũ con người có năng lực, nhằm thích ứng hiệu quả với những biến động ngày càng phức tạp của thực tiễn.

TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp.

Phát biểu tại Hội thảo, TS. Nguyễn Thị Kim Thoa nhấn mạnh rằng, “linh hoạt” là yêu cầu cần thiết nhưng phải được đặt trong khuôn khổ của Nhà nước pháp quyền, không thể hiểu theo nghĩa tùy tiện. Theo bà, bản chất của linh hoạt là vận dụng mềm dẻo nhưng vẫn tuân thủ pháp luật, bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý trong quản trị nhà nước.

TS. Nguyễn Thị Kim Thoa đặc biệt lưu ý, để khuyến khích sự linh hoạt, cần có cơ chế bảo đảm an toàn pháp lý cho người thực thi công vụ, tạo điều kiện để cán bộ “dám nghĩ, dám làm”. Tuy nhiên, việc chấp nhận “quyền được sai” cũng phải đi kèm với cơ chế kiểm soát trách nhiệm rõ ràng, tránh lạm dụng hoặc sai lệch bản chất.

Từ thực tiễn, bà cho rằng nhiều vướng mắc hiện nay xuất phát từ hệ thống pháp luật còn cứng nhắc, quy trình sửa đổi phức tạp, chưa theo kịp yêu cầu điều hành nhanh và linh hoạt. Bên cạnh đó, cơ chế phân cấp, phân quyền chưa rõ ràng, còn tình trạng dồn việc lên cấp trên hoặc xử lý tập thể, làm giảm hiệu quả và tính chủ động của bộ máy.

TS. Nguyễn Thị Kim Thoa cũng chỉ ra hạn chế trong tổ chức thực thi, khi chưa trao đủ quyền cho cán bộ chuyên môn, dẫn đến tình trạng quá tải ở người đứng đầu và làm giảm tính linh hoạt trong xử lý công việc.

Theo bà, để xây dựng chính phủ linh hoạt, cần đồng bộ nhiều giải pháp: hoàn thiện pháp luật theo hướng mở và thích ứng hơn; cải cách quy trình, phương thức làm việc; tăng cường phân quyền gắn với trách nhiệm cá nhân; đồng thời thiết lập cơ chế bảo vệ pháp lý rõ ràng cho cán bộ thực thi. Đây là những điều kiện quan trọng để bảo đảm tính linh hoạt đi đôi với kỷ cương và hiệu quả quản trị.

TS. Lưu Tiến Minh, nguyên cán bộ Văn phòng Quốc hội.

Phát biểu tại Hội thảo, TS. Lưu Tiến Minh cho rằng việc xây dựng mô hình chính phủ linh hoạt không nên dừng ở khái niệm hay khẩu hiệu, mà cần được cụ thể hóa bằng các giải pháp thực tiễn, có thể triển khai và đo lường được.

Từ kinh nghiệm làm việc với các quốc gia như Đức và Singapore, TS. Lưu Tiến Minh nhấn mạnh một nguyên tắc quan trọng của quản trị hiện đại: chính phủ phải chịu trách nhiệm đến cùng và thực hiện giải trình đầy đủ trước mọi vấn đề phát sinh trong xã hội. Theo đó, cần phân định rõ giữa “chính phủ” và “chính quyền”, trong đó chính phủ phải là chủ thể hành động trực tiếp, gắn với thực tiễn đời sống.

Để hiện thực hóa chính phủ linh hoạt, TS. Lưu Tiến Minh đề xuất ba nền tảng cốt lõi. Thứ nhất là đường lối, chính sách rõ ràng, có khả năng chuyển hóa thành hành động cụ thể, tránh tình trạng dừng ở định hướng chung. Thứ hai là dữ liệu và khoa học công nghệ, trong đó dữ liệu phải trở thành trung tâm của quản trị, là cơ sở cho việc đo lường, kiểm soát và ra quyết định. Thứ ba là nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, cần được tăng cường mạnh mẽ để tạo nền tảng cho đổi mới quản trị, tiệm cận với các quốc gia phát triển.

Về triển khai, TS. Lưu Tiến Minh cho rằng Việt Nam cần lựa chọn cách tiếp cận thận trọng, thông qua thí điểm trong phạm vi giới hạn thay vì áp dụng đại trà. Ông đề xuất có thể lựa chọn các khu vực như Vân Đồn và Phú Quốc làm “phòng thí nghiệm chính sách”, nơi thử nghiệm các cơ chế quản trị mới, mô hình dữ liệu và dịch vụ công linh hoạt.

Đáng chú ý, ông nhấn mạnh nguyên tắc: không thử nghiệm chính sách một cách đại trà trên người dân, mà phải có thiết kế khoa học, kiểm soát rủi ro và đánh giá tác động rõ ràng. Mọi thí điểm cần gắn với hệ thống đo lường dựa trên dữ liệu, từ đó tổng kết, hoàn thiện mô hình trước khi nhân rộng.

Các ý kiến tại Phiên 2 tiếp tục làm rõ các điều kiện bảo đảm cho việc hiện thực hóa mô hình “chính phủ linh hoạt”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, xây dựng hạ tầng dữ liệu, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm nguyên tắc pháp quyền trong quá trình đổi mới.

TS. Dương Thúy Hằng, Đại học Tây Úc, tham luận tại Hội thảo

Từ kinh nghiệm quốc tế, TS. Dương Thúy Hằng đã chia sẻ mô hình quản trị linh hoạt của Australia trong đại dịch Covid-19, nhấn mạnh vai trò của dữ liệu thời gian thực và cơ chế quyết định dựa trên bằng chứng, đồng thời gợi mở bài học cho Việt Nam trong việc luật hóa cơ chế thử nghiệm chính sách.

TS. Phạm Văn Bộ, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng tham luận tại Hội thảo

TS. Phạm Văn Bộ phân tích kinh nghiệm từ Trung Quốc trong việc thiết lập các không gian thử nghiệm chính sách tại địa phương, qua đó tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo và giảm thiểu rủi ro hệ thống. Ông cũng nhấn mạnh vai trò của quản trị số và sự kết hợp giữa Nhà nước và thị trường trong xây dựng chính phủ linh hoạt.

Ông Thái Quang Toản, nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Biên chế, Bộ Nội vụ.

Tại Hội thảo, ông Thái Quang Toản tiếp cận vấn đề chính phủ linh hoạt từ góc độ thực tiễn tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước. Theo ông, trong điều kiện Việt Nam, mọi cải cách đều phải đặt trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và sự lãnh đạo thống nhất, do đó tính linh hoạt của Chính phủ trước hết bị giới hạn trong khuôn khổ thể chế hiện hành.

Theo đó, tính linh hoạt không nằm ngoài luật mà được thể hiện trong năng lực tổ chức, điều hành và thực thi chính sách. Thực tiễn thời gian qua cho thấy Chính phủ đã đẩy mạnh ban hành khối lượng lớn văn bản pháp luật, thúc đẩy phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương, qua đó tạo chuyển động nhanh trong quản trị nhà nước.

Tuy nhiên, tham luận cũng chỉ ra những vấn đề cần lưu ý: việc chạy theo tiến độ có thể ảnh hưởng đến chất lượng chính sách; một số cơ chế linh hoạt trong thực thi còn phát sinh bất cập; và hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến phát biểu kết luận tại Hội thảo.

Phát biểu kết luận Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến ghi nhận và đánh giá cao 18 tham luận trực tiếp cùng với 41 bài trong kỷ yếu Hội thảo, có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Hội thảo đã góp phần bổ sung cơ sở lý luận, cung cấp luận cứ quan trọng cho quá trình hoạch định và thực thi chính sách, đồng thời mở ra nhiều hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu và đổi mới quản trị nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm.

Hải Long - APAG Media